Friendster là một mạng xã hội gợi cho tôi nhiều suy nghĩ và cảm xúc. Nhân dịp Friendster ra mắt phiên bản tiếng Việt, tôi muốn nhìn lại và tóm lược lịch sử của một trong những mạng xã hội đầu tiên trên thế giới này.

Friendster ra đời năm 2002 do Jonathan Abrams sáng lập xuất phát từ một ý tưởng lãng mạn: ông bị thất tình và muốn tìm những cô gái khác từ sổ địa chỉ e-mail của bạn bè. Có thể nói Friendster ra đời đúng vào thời điểm chín muồi cho nhu cầu của một mạng xã hội trong khi các mạng xã hội ra đời trước đó như Six Degrees và SocialNet đều thất bại. Không cần bỏ ra môt xu cho marketing, ngay đến mùa thu năm 2003 Friendster đã có được 3 triệu đăng ký và các báo lớn như Time, Esquire, Vanity Fair, Entertainment Weekly, US Weekly và Spin đều viết về hiện tượng Friendster trong khi còn chưa một ai biết tới MySpace. Jonathan Abrams đã trở nên rất nổi tiếng lúc đó.
Cũng vào thời điểm này Google đã đưa ra đề nghị mua lại Friendster với giá 30 triệu USD trả bằng cổ phiếu — một đề nghị mà nếu Mr. Abrams chấp nhận thì hôm nay có lẽ ông đã có trong tay không dưới 1 tỷ USD cổ phiếu của Google. Tất nhiên ông không chấp nhận — là một kỹ sư khá tự phụ và bị bao phủ bởi bóng mây thành công ông không dễ gì bán đi đứa con của mình như thế — ông muốn tạo nên một đế chế mới có thể sánh vai với những Google, Yahoo…
Để chuẩn bị cho kế họach chinh phục đỉnh cao của mình, Friendster đã thu nạp vào ban quản trị những tên tuổi lớn của Sillicon Valley như John Doerr, một VC huyền thoại từ quĩ Kleiner Perkins nơi đã đầu tư vào Google, Netscape, Amazon, và Bob Kagle, quĩ Benchmark Capital, một trong những nhà đầu tư đầu tiên vào eBay. Ngoài ra còn có Timothy A. Koogle, cựu CEO của Yahoo trong thập kỷ 90, Peter A. Thiel, đồng sáng lập PayPal và K. Ram Shriram — người nổi tiếng vì khoản đầu tư ban đầu vào Google (angel investment). Với một đội ngũ đầy tiếng tăm và kinh nghiệm như vậy ít ai có thể nghi ngờ về sự thành công của Friendster, nhưng chớ trêu thay, đây chính là tiên đề cho sự tuột dốc của mạng này.
Mặc dù có lý lịch tuyệt vời, những thành viên của ban quản trị Friendster đều là những người đã trên 50 tuổi, lứa tuổi khó có thể cảm nhận một mạng xã hội thực sự là gì và cần gì. Bản thân Abrams cũng bị áp lực bởi những tên tuổi lớn ấy và đã không thể tập chung thực hiện các kế hoạch của mình. Và trong khi các thành viên ban quản trị họp hành liên tục để nói về Google, Yahoo… hay đưa ra các điều lớn lao cho Friendster như VoIP, bản địa hóa Friendster với các ngôn ngữ Trung, Nhật, về tiềm năng quảng cáo trên mạng… thì họ lại quên đi một thực tế là website đang ngày càng chậm chạp, các chức năng tê liệt và người dùng đang nổi giận vì mỗi trang web phải mất gần cả phút mới hiện ra.
Cũng trong thời điểm này đối thủ mà sau này sẽ biến Friendster thành “lịch sử” xuất hiện — đó không phải ai xa lạ: MySpace. Thế mạnh của MySpace là nó cho phép tùy biến, tô điểm cho lý lịch của người dùng và cung cấp các công cụ thời thượng như blog, photo… Trong khi các đối thủ liên tục đưa ra các chức năng mới thì Friendster lại không thể làm vậy vì mạng này quá chậm và việc đưa thêm các công cụ mới sẽ chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Friendster muốn trở thành một Google mới trong khi lại không thể tập chung nguồn lực để giải quyết bài toán kỹ thuật căn bản nhất là tốc độ dịch vụ!
Cuối cùng là những quyết định phản ánh nhãn quan (hẹp hòi) của các nhà quản trị đã làm cho người dùng rời bỏ mạng này như việc cấm đưa hình ảnh tiếu lâm hay hình chó, mèo lên mạng và đưa ra nhiều “nội qui” khác trong khi MySpace khuyến khích người dùng làm bất kỳ những gì họ muốn. Năm 2004 đánh dấu sự bùng nổ của MySpace và mặc dù liên tục thay đổi giám đốc điều hành Friendster vẫn mất dần những người dùng trung thành đặc biệt là tại Mỹ. Năm 2006, theo comScore số lượng người dùng thực của MySpace đã lớn gấp hơn 50 lần của Friendster. Một năm trước đó (2005) MySpace đã được News Corporation của tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch mua lại với giá $580 triệu USD còn Friendster được rao bán nhưng cũng chẳng nhà đầu tư nào chịu bỏ ra dù chỉ $20 triệu USD - trong thế giới web, ranh giới giữa thành công và thất bại thật là đậm nét!
Đầu năm 2006, Friendster quyết định tái cấu trúc bằng việc giải tán ban giám đốc trên ngũ tuần của mình và tập chung hầu hết nguồn lực vào việc cải thiện tốc độ của dịch vụ. Họ cũng vứt bỏ những dự định viển vông và định vị mình như một mạng xã hội dành cho nhóm người lớn tuổi hơn, khuyến khích người dùng tại các khu vực ngoài nước Mỹ. Ba phần tư người dùng Friendster đến từ các nước châu Á như Philippines, Malaysia, Singapore… và có lẽ vì thế họ đang nhìn Việt Nam như một cơ hội mới.
Chào mừng Friendster tới Việt Nam! Với tôi mạng xã hội này là những bài học về quyết định, sự tập trung, cách lựa chọn công nghệ và nhãn quan. Một trang web chỉ có thể thành công nếu nó không bắt người dùng phải chờ đợi, một mạng xã hội chỉ thành công khi nó cho phép các cá nhân thể hiện mình. Cơ hội trên web rất ngắn ngủi và nếu bạn không thể tận dụng nó thành công thì hàng chục đối thủ khác sẽ rất vui lòng thế chân bạn. Tại Mỹ, Friendster đã trở thành lịch sử nhưng liệu mạng này có tìm thấy tương lai tại Việt Nam hay không?

Friendster ra đời năm 2002 do Jonathan Abrams sáng lập xuất phát từ một ý tưởng lãng mạn: ông bị thất tình và muốn tìm những cô gái khác từ sổ địa chỉ e-mail của bạn bè. Có thể nói Friendster ra đời đúng vào thời điểm chín muồi cho nhu cầu của một mạng xã hội trong khi các mạng xã hội ra đời trước đó như Six Degrees và SocialNet đều thất bại. Không cần bỏ ra môt xu cho marketing, ngay đến mùa thu năm 2003 Friendster đã có được 3 triệu đăng ký và các báo lớn như Time, Esquire, Vanity Fair, Entertainment Weekly, US Weekly và Spin đều viết về hiện tượng Friendster trong khi còn chưa một ai biết tới MySpace. Jonathan Abrams đã trở nên rất nổi tiếng lúc đó.

Cũng vào thời điểm này Google đã đưa ra đề nghị mua lại Friendster với giá 30 triệu USD trả bằng cổ phiếu — một đề nghị mà nếu Mr. Abrams chấp nhận thì hôm nay có lẽ ông đã có trong tay không dưới 1 tỷ USD cổ phiếu của Google. Tất nhiên ông không chấp nhận — là một kỹ sư khá tự phụ và bị bao phủ bởi bóng mây thành công ông không dễ gì bán đi đứa con của mình như thế — ông muốn tạo nên một đế chế mới có thể sánh vai với những Google, Yahoo…
Để chuẩn bị cho kế họach chinh phục đỉnh cao của mình, Friendster đã thu nạp vào ban quản trị những tên tuổi lớn của Sillicon Valley như John Doerr, một VC huyền thoại từ quĩ Kleiner Perkins nơi đã đầu tư vào Google, Netscape, Amazon, và Bob Kagle, quĩ Benchmark Capital, một trong những nhà đầu tư đầu tiên vào eBay. Ngoài ra còn có Timothy A. Koogle, cựu CEO của Yahoo trong thập kỷ 90, Peter A. Thiel, đồng sáng lập PayPal và K. Ram Shriram — người nổi tiếng vì khoản đầu tư ban đầu vào Google (angel investment). Với một đội ngũ đầy tiếng tăm và kinh nghiệm như vậy ít ai có thể nghi ngờ về sự thành công của Friendster, nhưng chớ trêu thay, đây chính là tiên đề cho sự tuột dốc của mạng này.
Mặc dù có lý lịch tuyệt vời, những thành viên của ban quản trị Friendster đều là những người đã trên 50 tuổi, lứa tuổi khó có thể cảm nhận một mạng xã hội thực sự là gì và cần gì. Bản thân Abrams cũng bị áp lực bởi những tên tuổi lớn ấy và đã không thể tập chung thực hiện các kế hoạch của mình. Và trong khi các thành viên ban quản trị họp hành liên tục để nói về Google, Yahoo… hay đưa ra các điều lớn lao cho Friendster như VoIP, bản địa hóa Friendster với các ngôn ngữ Trung, Nhật, về tiềm năng quảng cáo trên mạng… thì họ lại quên đi một thực tế là website đang ngày càng chậm chạp, các chức năng tê liệt và người dùng đang nổi giận vì mỗi trang web phải mất gần cả phút mới hiện ra.
Cũng trong thời điểm này đối thủ mà sau này sẽ biến Friendster thành “lịch sử” xuất hiện — đó không phải ai xa lạ: MySpace. Thế mạnh của MySpace là nó cho phép tùy biến, tô điểm cho lý lịch của người dùng và cung cấp các công cụ thời thượng như blog, photo… Trong khi các đối thủ liên tục đưa ra các chức năng mới thì Friendster lại không thể làm vậy vì mạng này quá chậm và việc đưa thêm các công cụ mới sẽ chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Friendster muốn trở thành một Google mới trong khi lại không thể tập chung nguồn lực để giải quyết bài toán kỹ thuật căn bản nhất là tốc độ dịch vụ!
Cuối cùng là những quyết định phản ánh nhãn quan (hẹp hòi) của các nhà quản trị đã làm cho người dùng rời bỏ mạng này như việc cấm đưa hình ảnh tiếu lâm hay hình chó, mèo lên mạng và đưa ra nhiều “nội qui” khác trong khi MySpace khuyến khích người dùng làm bất kỳ những gì họ muốn. Năm 2004 đánh dấu sự bùng nổ của MySpace và mặc dù liên tục thay đổi giám đốc điều hành Friendster vẫn mất dần những người dùng trung thành đặc biệt là tại Mỹ. Năm 2006, theo comScore số lượng người dùng thực của MySpace đã lớn gấp hơn 50 lần của Friendster. Một năm trước đó (2005) MySpace đã được News Corporation của tỷ phú truyền thông Rupert Murdoch mua lại với giá $580 triệu USD còn Friendster được rao bán nhưng cũng chẳng nhà đầu tư nào chịu bỏ ra dù chỉ $20 triệu USD - trong thế giới web, ranh giới giữa thành công và thất bại thật là đậm nét!
Đầu năm 2006, Friendster quyết định tái cấu trúc bằng việc giải tán ban giám đốc trên ngũ tuần của mình và tập chung hầu hết nguồn lực vào việc cải thiện tốc độ của dịch vụ. Họ cũng vứt bỏ những dự định viển vông và định vị mình như một mạng xã hội dành cho nhóm người lớn tuổi hơn, khuyến khích người dùng tại các khu vực ngoài nước Mỹ. Ba phần tư người dùng Friendster đến từ các nước châu Á như Philippines, Malaysia, Singapore… và có lẽ vì thế họ đang nhìn Việt Nam như một cơ hội mới.
Chào mừng Friendster tới Việt Nam! Với tôi mạng xã hội này là những bài học về quyết định, sự tập trung, cách lựa chọn công nghệ và nhãn quan. Một trang web chỉ có thể thành công nếu nó không bắt người dùng phải chờ đợi, một mạng xã hội chỉ thành công khi nó cho phép các cá nhân thể hiện mình. Cơ hội trên web rất ngắn ngủi và nếu bạn không thể tận dụng nó thành công thì hàng chục đối thủ khác sẽ rất vui lòng thế chân bạn. Tại Mỹ, Friendster đã trở thành lịch sử nhưng liệu mạng này có tìm thấy tương lai tại Việt Nam hay không?